Vị Giám mục thứ 4 cai quản Giáo Phận Huế
(1880-1907)

Đức Cha Caspar sinh tại Obernai (giáo phận Strasbourg, tỉnh Bas-Rhin) ngày 23 tháng 7 năm 1841. Cha mẹ ngài là những thương gia được trọng vọng, những Kitô hữu rất tốt lành và những người rất hăng hái phục vụ đất nước mình.

Thân phụ Ngài, phụ tá thị trưởng Obernai, đã rất đau buồn về những tàn phá của cuộc chiến năm 1870 và không ai an ủi ông được khi thấy vùng Alsace thân yêu của mình bị rơi vào tay quân Đức đến nỗi ông đau buồn mà chết. Vào thời kỳ bị tàn phá đó, Louis Caspar đã ở Miền Truyền Giáo. Cũng yêu đất nước mình như người cha, Ngài đã không được biết sớm hơn rằng ngài có tự do chọn lựa vì nước Pháp hoặc lệ thuộc vào nước Đức, Ngài liền hối hả tuyên bố theo đúng thể thức rằng sinh là người Pháp, Ngài sẽ sống và chết là người Pháp.
Sau khi học nhiều năm ở trường Obernai, cùng với bạn đồng hương Louis Dangelzer, mà cậu sẽ gặp lại sau này trong Miền Truyền Giáo Bắc Đàng Trong, Louis Caspar hoàn tất môn văn học cổ điển (humanités) ở Metz, tại trường Saint-Clément, do các cha Dòng Tên điều hành, rồi từ đó qua Đại chủng viện Strasbourg, nơi thầy sớm rời bỏ để đến Chủng viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris.

Sau thời gian huấn luyện bình thường trong cơ sở này với bao kỷ niệm đẹp, thầy thụ phong linh mục ngày 17 tháng 12 năm 1864. Ngày 15 tháng hai năm sau, ngài xuống tàu đi Miền Truyền Giáo Tây Đàng Trong.
Với lòng yêu thích cuộc sống đều đặn và bình lặng, vị thừa sai trẻ lấy làm hạnh phúc đã được bổ nhiệm làm giáo sư chủng viện Sài Gòn ngay khi đến, và vài năm sau đó, ngài hết sức vui thích khi được Giám mục của mình trao trách nhiệm thành lập một trường giáo lý viên tại Tân Định. Tự do hoạt động hơn khi ở chủng viện, ngài đã có thể chăm lo đào luyện các học trò của mình những ý tưởng chắc hẳn phù hợp với cá tính của ngài hơn là trong thực tế, bởi vì công trình này sau khi bị ngưng trệ, đã được phục hồi với những nền tảng mới.
Cùng lúc này ngài đã xuất bản nhiều tác phẩm tu đức và ngôn ngữ học rất bổ ích, đặc biệt cuốn Dictionnaire annamite-francais (Tự điển Việt-Pháp,Tân Định, Sài Gòn, 1877) và Notions pour servir à l’étude de la langue annamite (Những khái niệm giúp học tiếng Việt, Tân Định, Sài Gòn, 1879).
Việc này tồn tại cho đến năm 1880, khi ngài được gọi làm Giám mục kế vị Đức Cha Pontvianne, với hiệu toà Canathe, làm Đại Diện Tông Toà Bắc Đàng Trong.
Ngài được tấn phong tại nhà thờ chính toà Sài Gòn, ngày 24 tháng 8 năm 1880 do Đức Cha Colombert. Ít ngày sau, ngài đi Huế và đến đó vào đầu tháng 9.

Công việc tông đồ đặc biệt mà Đức Cha Canathe đã chịu trách nhiệm trong Miền Truyền Giáo Tây Đàng Trong chỉ chuẩn bị cho ngài cách khá xa vời cho một hoàn cảnh biết bao khó khăn khi Miền Truyền Giáo ngài cai quản lại khác nhiều điểm hơn Miền Truyền Giáo ngài đã sống trong suốt 15 năm qua.
Không phải ngài không biết tình trạng này. Nhưng cậy trông vào Chúa và sự trợ lực của hàng giáo sĩ, ngài bắt tay vào việc một cách can đảm. Xác tín rằng không lời giáo huấn nào có giá trị bằng gương sáng, sau vài tuần lễ chuyện trò trao đổi với các linh mục và tiếp đón các chức sắc của nhiều giáo hạt khác nhau, ngài quyết định đi đến một giáo xứ tại một vùng có khí độc ngăn trở mọi thừa sai lưu trú cố định tại đó. Ngài ở lại đó trong vòng 15 ngày, và trở về khá mệt, nhưng lấy làm hạnh phúc đã dạy dỗ một vài trẻ em và sống giữa những tín hữu, mà không bao giờ ngài quên được lòng nhiệt thành và sự đơn sơ của họ.
Sau đó, ngài chuẩn bị đi một vòng đầu tiên để ban phép Thêm Sức. Ngài mới bắt đầu, thì được tin hoả hoạn vừa thiêu rụi các ngôi nhà mới xây tại nông trại Ba Trục. Đây là một thiệt hại không thể sửa chữa lại về mặt vật chất, và làm cho trở thành hư không những niềm hy vọng của Đức Cha Sohier khi lập nên cơ sở này, để cung cấp nguồn tài chánh cho Miền Truyền Giáo đang hoàn toàn bị thiếu hụt.
“Dominus dedit, Dominus abstulit (Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi). Xin chúc tụng thánh ý Chúa ” (x.Gióp 1,21). Đức Cha chỉ nói thế, và ngài tiếp tục cuộc hành trình, tưởng như không có gì khác thường xảy ra.
Tùng phục hoàn toàn sự Quan Phòng của Chúa là một đặc điểm trong diện mạo tinh thần của Đức Cha Caspar. Ngài sẽ thường có dịp thực hành trong suốt triều giám mục dài của ngài, khi phải chịu đựng bao nhiêu thử thách đủ mọi thứ.
Một trong những lần nặng nề nhất đó là thử thách theo sau việc chiếm Thuận An vào tháng 8 năm 1883 và cái chết của vua Hiệp Hoà là người tỏ ra thân tình với vị đại diện nước Pháp tại Huế. Trong vòng 1 tháng, từ 30 tháng 11 đến cuối tháng 12, mọi họ đạo của tỉnh Thừa Thiên đều bị vây hãm bởi những băng nhóm được các quan chức thuê sẵn sàng tàn sát các thừa sai và các Kitô hữu. Trong số đó, một vài nhóm ham cướp bóc hơn, không có lệnh chính thức, đã bắt đầu công việc độc ác và trong chưa đầy 3 ngày tất cả các họ đạo nằm trên đường quan giữa Đà Nẵng và Huế đều bị cướp bóc, đốt cháy, và hầu như mọi cư dân đều bị tàn sát.
Trong tháng này, Đức Cha Caspar phải ở ẩn trong Toà Giám mục không thể đi ra mà không bị nguy hiểm đến tính mạng, nghe những tin xấu nhất và càng thêm đau khổ khi những người có thể làm cho hoàn cảnh nên tốt hơn, lại tỏ vẻ không tin lời ngài mà xem ra chỉ muốn tin vào lời những kẻ nghịch đạo.
Cuối cùng việc chiếm Sơn Tây ở Bắc Kỳ và sự rút lui của quân Tàu đánh thuê chấm dứt những khốn khổ dữ dằn trong vòng 1 tháng đã làm cho vị Giám mục không chút nghỉ ngơi.
Tuy nhiên tiếp sau những ngày khốn khổ đó lại là những ngày còn nặng nề hơn, khi hai năm sau đó, Huế âm mưu và các quân của tướng de Courcy chiếm thành phố này. Theo lệnh của các quan nhiếp chính Tường và Thuyết, những người bách hại nổi lên từ mọi phía, tàn phá Miền Truyền Giáo Đông Đàng Trong và tiếp tục công trình huỷ diệt đó trong tỉnh Quảng Trị và một phần lớn tỉnh Quảng Bình, nghĩa là trong hết hai phần ba Miền Truyền Giáo Bắc Đàng Trong. Khắp mọi nơi các băng nhóm này đi qua, không một thánh đường nào, không một nhà có đạo nào thoát khỏi cảnh bị đốt cháy; chỉ riêng tại tỉnh Quảng Trị, trong vòng một tuần, 5 linh mục bản xứ và hơn 7000 tín hữu hoặc bị thiêu cháy hoặc bị nhận nước, hoặc bị tàn sát.
(Còn tiếp)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ