Đức Cha Eugène-Marie-Joseph Allys (Lý) (1852 – 1936) (tiếp theo)

02/09/2026

Vào năm 1883, hoà bình lại bị khuấy động: nơi này nơi khác các Kitô hữu bị bách hại. Đến lượt giáo xứ Dương Sơn bị hăm dọa. Một ngày kia cha Allys nhận được một lá thư của Đức Cha Caspar nội dung như sau:

“ Một lệnh của quan nhiếp chính Tường truyền cho tất cả nọi người khoẻ mạnh phải ở trong tư thế sẵn sàng để được trưng dụng cùng vũ khí và lương thực. Chúng ta chỉ  hy vọng được cứu thoát nơi Chúa mà thôi. Chờ dấu hiệu đầu tiên là bắt đầu chém giết. Chúng ta chỉ còn chuẩn bị các tín hữu chết lành mà thôi”.

Sau này Đức Cha Allys nói: “Ôi những ngày khắc khoải cho các Kitô hữu. Không gì kinh khủng bằng những sự hăm doạ chết chóc như thế mà âm vang không ngừng đến với chúng tôi và gieo rắc sự kinh hoàng giữa các Kitô hữu. Không gì làm cho mất tinh thần hơn sự bất định liên tục về ngày mai!”

Trong suốt thời gian đó, cha Allys thi hành một hoạt động mục vụ đầy hiệu quả và mang đến cho các tín hữu thật dồi dào an ủi tinh thần nâng đỡ họ trong cơn thử thách. Những người còn sống sót từ thế hệ này thích ca tụng sự hoà mình, lòng nhân ái và tình thương của vị thừa sai là người đã chiếm trọn cõi lòng của họ.

May thay Dương Sơn được miễn trừ. Chỉ có một vài giáo xứ phía nam và phía tây tỉnh Huế đã bị hầu như hoàn toàn triệt tiêu. Lúc đó ông Tricou đến Huế như bộ trưởng đặc mệnh toàn quyền phiền trách quan nhiếp chính Tường và chính quyền Việt Nam. Vị quan này mạnh mẽ chối bỏ những sự kiện rất tỏ tường và phản đối cho rằng chẳng ai thèm để ý đến người công giáo làm gì!

Sự can thiệp của vị đại diện Pháp ít nữa cũng có một kết quả tốt: đó là ngăn cản những bách hại khác.

Nhưng than ôi! cơn gió lặng tạm thời do sự can thiệp của Pháp  kéo dài không lâu. Quả thực, ngày 5 tháng 7 năm 1885, sau khi tướng de Courcy chiếm Huế, vị vua trẻ Hàm Nghi và quan nhiếp chính thứ hai Tôn Thất Thuyết đã chạy trốn ra thành Cam Lộ khoảng 80 km về phía đông bắc Huế. Vị nhiếp chính thứ nhất không hề rời kinh thành, nhưng đã thoả thuận với đồng sự, ông truyền lệnh cho các nho sĩ nổi dậy chống Pháp và các Kitô hữu. Lệnh này được thực thi từng điểm một. Trong tỉnh Quảng Trị, ở phía bắc Huế, thật là cả một tai hoạ thực sự!

Một đoàn quân Pháp lên đường từ Huế tiến chiếm tỉnh lỵ Quảng Trị, nhưng đã quá chậm. Trong vòng vài tiếng đồng hồ, hơn một nửa Kitô hữu đã bị tàn sát và tất cả các họ đạo đều bị phá huỷ. Theo chỉ thị của Đức Cha Caspar, cha Allys đi theo đoàn quân viễn chinh. Ngài viết:

Trong đêm 7 rạng ngày 8 tháng 9, chúng tôi thấy đám cháy thiêu rụi họ đạo Kẻ Văn. Sáng ngày 8, chúng tôi đi qua các làng đã bị đốt cháy là Ngô Xá và Tri Lễ.

Trước mặt Cổ Vưu, chúng tôi thấy 8 xác trẻ em bị chặt đứt chân tay cách dã man. Phần đông các kitô hữu cư trú bên bờ trái con sông đều đã có thể thoát được. Nhưng những giáo xứ lớn và đẹp đẽ ở bờ phải chỉ còn là đống tro tàn và la liệt nhiều xác chết. Nhất là ở trong và chung quanh các nhà thờ, các tử thi chất đống. Sau khi đã mất hy vọng thoát khỏi cái chết hoặc chạy trốn, hoặc bằng cách nào khác, một số lớn, nhất là phụ nữ và trẻ em tìm một chút an ủi là được chết dưới bóng thánh giá và được chôn lấp dưới những đổ nát của nhà thờ, nơi họ đã lãnh nhận phép Rửa và thường xuyên đến cầu nguyện.

Trong nhiều nơi người người đã bị thiêu sống và các người Pháp ở Quảng Trị xúc động biết được rằng cách thành đó khoảng một giờ đi bộ, người ta đã thiêu sống 176 người thuộc họ đạo An Lộng.

Trong họ Dương Lộc, cuộc tàn sát thật kinh khủng. Chắc hẳn không thấy rõ nguy hiểm đang bao quanh, hoặc nghĩ rằng hợp lực lại họ có thể chống cự quân cướp dễ dàng hơn, nên các Kitô hữu thuộc 5 họ đạo lớn, 4 linh mục và khoảng 50 nữ tu họp nhau tại Dương Lộc. Họ đã có thể đẩy lui nhiều cuộc tấn công của loạn quân. Nhưng những loạn quân này đã gọi thêm tăng viện và đã dẫn đến cả 1 con voi trận. Trước những sức mạnh đó, các người trong vòng vây chắc hẳn đã mất can đảm. Sau khi phá bỏ các chướng ngại vật, loạn quân xâm nhập vào trong lũy nhỏ bảo vệ yếu ớt của các Kitô hữu.

Lửa cháy, gươm đao, giáo mác tất cả hợp nhau tàn sát  2 hoặc 3 ngàn kitô hữu tụ họp nơi đó”.

Tuy nhiên giữa mọi đổ nát đó, tâm hồn vị thừa sai đã cảm nhận được một niềm an ủi dịu dàng. Cha Allys kể tiếp:

“Sẽ không bao giờ tôi quên được câu trả lời của một bà cụ trên 70 tuổi gặp thấy nằm bên đường, trước ngôi nhà bị thiêu cháy và rất gần với khoảng chục xác chết đã đông cứng, người đàn bà đó có hai má và lưỡi bị giáo đâm qua, tôi không kể đến các vết thương khác. Dầu đã 5 ngày nằm đó không ăn không uống, bà vẫn sống và tỉnh táo. Quỳ xuống bên cạnh bà, tôi hỏi bà chắc đau lắm và bà muốn xưng tội không. Hoặc bà đã không nghe các câu hỏi của tôi, hoặc bà đã tưởng điều gì khác, bà chỉ trả lời con bằng những tiếng này: “Tôi sẽ không bỏ đạo”.

Cha Allys nhờ các người Việt tháp tùng hỏi bà và cũng nghe một câu trả lời như thế. Ngài liền ban phép giải tội lòng lành cho bà và bà chết tử đạo.

Cha Allys còn ở lại Quảng Trị một ít thời gian rồi ngài tiếp tục đi đến An Ninh đã bị loạn quân bao vây suốt ba tuần và vừa được giải thoát.

Ngài ở lại một tháng với cha Dangelzer, cha Chính Miền Truyền Giáo tại Di Loan, một họ đạo gần Tiểu chủng viện đã bị quân Văn thân tàn phá rồi ngài trở về Huế tường trình lại cho Đức Cha Caspar.  

Bấy giờ ngài được đặt làm cha sở Phủ Cam và quản hạt Bên Thuỷ. Phủ Cam lúc đó có gần 500 giáo dân và giáo hạt được hình thành từ một ít giáo xứ nghèo mà nhiều xứ đã mất đi một phần mười trong cuộc bách hại.

(còn tiếp)

Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ