Đức Cha Marie Antoine CASPAR (LỘC) (tiếp theo)

19/08/2026

Đức Cha cũng muốn cho giáo phận hưởng được sự hiện diện của các nữ tu người Pháp. Ngài mời đến Huế các Chị em Dòng Thánh Phaolô thành Chartres. Ngài giao cho họ cơ sở Viện Dục Anh đang phát triển nhanh và một trường  trong khu phố tây ở Huế.

Sau các Sơ, nhờ những cuộc thương thảo được hướng dẫn khéo léo, các Anh Em Trường Kitô (Lasan) cũng đã đến Huế và lập nên  hai trường rất phát triển, một tập viện, một tuyển viện và một nhà tĩnh tâm.   

Ngài cũng khao khát sự hiện diện của các Chị Em Dòng Carmêlô. Ngài ở trong số những người vững tin vào sự phong phú của lời cầu nguyện và hy sinh, và ngài có lý. Những hoàn cảnh không như ý ngài muốn đã làm lùi lại việc hoàn thành ước nguyện này ( nay đã được thể hiện).

Thêm vào những công trình này là đông đúc các cuộc trở lại của lương dân, mà vị giám mục, nếu không trực tiếp làm như các thừa sai, thì cũng đã trợ lực bằng cách cổ võ, thúc đẩy và giúp ngân khoản. Từ 1886 đến 1906, 14 giáo xứ mới gồm hơn 20 họ đạo đã được thành lập và xây dựng vững chãi. Số các tín hữu từ 18.000 lên đến hơn 60.000 .

Sự tăng triển này không phải được thực hiện mà không vất vả trở ngại. Những ai trong chúng tôi cùng với các tân tòng đã là nạn nhân bất công nhất trong các cuộc bách hại của nhà cầm quyền, sẽ không bao giờ quên được những khắc khoải đã chịu, khi thấy một số người mới theo đạo phải sa ngã. Trong thời gian này, vị Giám mục cũng  phải tranh đấu chống lại những kẻ bách hại này đang hung hăng lấy mất đi một số tài sản mà ngài đã tậu được cho Miền Truyền Giáo. May thay Chúa Quan Phòng đích thân lo các việc này cho chúng tôi. Những người đối xữ với chúng tôi như thù nghịch dần dần khuất đi từ người này đến người khác, và chúng tôi đã có được niềm an ủi đem về lại nhiều con chiên đã lạc mất và có thêm nhiều người hơn để thế chỗ cho những con chiên đã bỏ đi.

Các công việc này không hoàn toàn lôi kéo vị Giám mục của chúng ta khỏi các học hỏi thiết thân của ngài: ngài xuất bản các sách Bài giảng về các Phúc âm gồm 5 cuốn, Tháng Thánh Giuse, Một Phương pháp cầu nguyện v.v.)

Do tư cách và tính khí của ngài, ngài là một con người ham thích học hỏi (homme d’étude). Khi đã hoàn tất các việc bên ngoài như bổn phận đòi hỏi, ngài liền trở về với sách vỡ, nhưng đó là những cuốn sách  để làm việc chứ không phải để tiêu khiển (livres de travail et non de délassement). Ngài không đặt mua tờ báo hằng ngày nào thuộc chế độ thuộc địa, hoặc từ Pháp hoặc từ nước ngoài nào, thư viện của ngài chỉ gồm những tác phẫm triết học, thần học, tu đức, khoa học và  sách chữ Hán, mà nhờ thông thạo các mặt chữ nên ngài đọc dễ dàng. Nói tóm lại, Đức Cha Caspar là một Giám mục đạo đức, khiêm tốn, uyên bác và là người, như thấy trong thực tế, chỉ thoát ra khỏi sự dè dặt thường tình khi ngài nghĩ phải làm như vậy một đôi lần, chẳng hạn như trong dịp mà chúng tôi phải nêu lên.

Đó là vào tháng 8 năm 1883, cửa Thuận An nằm cách Huế khoảng 12 cây số, vừa bị dội bom và bị đô đốc Courbet chiếm cứ. Vua Hiệp Hoà và các quan chức lo tương lai không bảo đảm. Họ rất ái ngại ngay cả trong việc xuất hiện trước vị đô đốc là người trước hôm dội bom Thuận An đã không tiếp và không cho hai vị sứ giả của Triều đình lên trên tàu Bayard .

Trong cảnh ngộ đáng buồn và khó khăn đó, chính quyền Việt Nam thấy chỉ có một người có thể giúp họ san phẳng các nẻo đường dẫn đến một thoả thuận giữa nước Pháp và Việt Nam: đó là vị Giám mục Huế. Một phái đoàn đến gặp Đức Cha Caspar để, nhân danh nhà Vua và tất cả các bộ trưỏng, xin ngài vui lòng đồng hành và giới thiệu các quan phụ trách việc cầu hoà với vị đô đốc. Đức Cha Caspar chấp thuận với ao ước phục vụ và cứu mọi người thoát khỏi hiểm hoạ
chiến tranh.

Vị đô đốc và cả bộ tham mưu tiếp đón ngài long trọng, và thể theo lời yêu cầu của ngài, ông sẵn sàng nghe các vị đại diện toàn quyền của Việt Nam trình bày. Một vài ngày sau, một hoà ước giữa Pháp và Việt Nam đã được ký giữa ông Harmand, uỷ viên chính phủ Pháp, và ông Tường, bộ trưởng ngoại giao Việt Nam.

Ghi nhớ việc phục vụ này, Đức Cha Caspar đã được trao tặng huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh (Légion d’honneur). Dầu rất xúc động trước việc tặng thưởng này,  ngài  vẫn không bao giờ hoặc rất hiếm khi mang huy chương này.

Những việc phục vụ Đức Cha Caspar đã làm trong những hoàn cảnh khó khăn mang tầm quan trọng lớn lao. Nhưng những người ngài đã giúp đỡ lại là những kẻ nghịch thù khó hoà giải hoặc là những người bạn không đủ khả năng, thế nên ngài đau khổ thấy ông Tường kích động lương dân bách hại người có đạo, còn tướng de Courcy lại từ chối giúp đỡ những kẻ bị người ta bách hại. Ngài chỉ còn được niềm an ủi làm dịu bớt nỗi niềm cay đắng, đó là dầu sao ngài cũng đã muốn phục vụ nước Việt Nam và cả đất nước mình.

Gần 42 năm trôi qua kể từ ngày vị Giám mục rời nước Pháp, 26 năm từ khi ngài cai quản giáo phận Bắc Đàng Trong. Chúng tôi nghĩ rằng còn giữ ngài lại được để dẫn dắt chúng tôi, khi một ngày kia ngài báo cho chúng tôi rằng ngài đi Rôma để cần bàn về những lợi ích của giáo phận. Ngài nói sự  vắng mặt của ngài sẽ vắn thôi và ngài chỉ thực sự hạnh phúc khi đặt chân lại trên đất Việt Nam.

Rủi thay ngài chọn thời điểm cuộc hành trình không đúng lúc. Ra đi từ Huế khoảng cuối tháng 9 năm 1906, ngài đến Pháp ngày 14 tháng 11. Ngài muốn thực hiện vài cuộc hành hương và thăm gia đình của các vị thừa sai.

Quá mệt khi vừa đến Rôma vào tháng 4 năm 1907, ngài lâm bệnh nặng. Ngài tưởng rằng không bao giờ có lại sức khoẻ để trở về Miền Truyền Giáo của mình, nhất là để lại sống cuộc đời làm việc, và ngài đã đệ đơn từ chức trong tay Đức Hồng Y Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo là người chỉ đón nhận với bao tiếc nuối thực tình.

Sau đó ngài có hơi khoẻ lại để  đến Alsace… Sự yên tĩnh, bầu khí quê nhà và những lo lắng ân cần tận tâm của người chị dâu mà từ ngày chồng mất, vẫn ở một mình ẩn dật trong nhà của gia đình ngài, mang lại cho ngài đủ sức khoẻ để còn sống thêm khoảng 10 năm nữa.

Ở xa cũng như ở gần, ngài cảm thấy hết lòng gắn bó với Miền Truyền Giáo đã được ngài lãnh đạo rất tốt đẹp.

Khi người chị dâu mất, ngài đến ở viện dưỡng lão Obernai, sống  trong cô tịch, cầu nguyện và  kể từ tháng 8 năm 1914 với bao nhiêu thao thức! Từ đó, chúng tôi không biết gì thêm ngoài ngày ngài mất là 13 tháng 6 năm 1917.

Dầu xa giáo phận từ 10 năm qua, Đức Cha Caspar không bị lãng quên ở đó và sẽ còn được nhớ lâu dài.

Không thể cử hành nghi thức an táng long trọng cho di hài của ngài, cả Miền Truyền Giáo Bắc Đàng Trong đã tích cực cầu nguyện cho ngài.

Trong nhiều ngày, có lẽ trong nhiều tuần, các thánh lễ đã được cử hành và các kinh nguyện đã được dâng lên cầu cho linh hồn ngài được nghỉ yên tại tất cả các nhà thờ và nguyện đường trong giáo phận. Nhất là trong lễ trọng thể tại nhà thờ Phủ Cam, tất cả các cấp chính quyền Việt – Pháp và các thành viên phái đoàn châu Âu đều đến tham dự để bày tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với vị Giám mục thánh thiện và  là người con tốt lành của miền Alsace, nước Pháp.

(Trích dịch Archives des Missions Etrangères de Paris, No 868, Pays : Vietnam)

Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ