
Tiểu sử 101 vị Thừa sai MEP đã phục vụ Giáo phận Huế (1850 – 1975)
Số 18. CHA MARTIN BRILLET – Hiền (1844 – 1877)
Cha Martin-Henri Brillet sinh tại Bonnoeuvre (Loire-Inférieure), ngày 16.08.1845 và nhập Chủng viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại ngày 28.07.1870, sau khi đã qua Tiểu và Đại chủng viện địa phận ngài với việc học hỏi văn chương và thần học xuất sắc. Chiến tranh đã buộc ngài lui về Nantes, từ đó ngài trở lại ngay khi hòa bình được ký kết ngày 31.01.1872, ngài đã xuống tàu đi miền truyền giáo Bắc Đàng Trong.
Thiên Chúa có những bí mật khôn dò, và nếu đôi lúc con người tưởng rằng mình đã khám phá ra, vì con người xét đoán tương lai theo niềm hy vọng của mình, chẳng bao lâu phải thú nhận rằng các xét đoán của mình là vô ích và tin tưởng hão huyền.
Có được một trí thông minh xuất chúng, một tâm hồn cao thượng, một trí nhớ tốt, dấn thân mạnh mẽ cho ơn gọi, cha Brillet xem ra là một khí cụ được chuẩn bị cách tuyệt vời. Ngài đúng như vậy, nhưng là cho đau khổ hơn là cho công việc. Chưa đầy hai năm một cơn bệnh đau đớn bất ngờ chụp lấy ngài.
Do lệnh Giám mục, ngài đi Sài Gòn nơi cha sở nhà thờ chính tòa de Kerlan hết lòng lo cho ngài, nhưng vô ích! Cơn bệnh chỉ có tăng thêm, và xem ra gần đến giờ người anh em của chúng ta chẳng có nương nhờ gì khác ngoài việc lên đường đi Pháp. Lúc đó cha Gernot, được gọi đến Sài Gòn để lo công việc của miền truyền giáo, đến thăm người bệnh.
Ngài có bản tính tự nhiên mạnh mẽ lôi kéo ngài đến với sự yếu kém một cách mãnh liệt bất cứ ở nơi nào gặp được, rồi theo bản năng, bản tính này cúi xuống trước hết để yêu mến, rồi nâng dậy và bênh đỡ.
Cha chính địa phận nói: “Này cha Brillet, tôi ở Cái Mơn, thiên đàng của Đàng Trong, hãy đến đó, chúng tôi sẽ chữa lành cho cha, tôi hứa điều đó với cha, hãy đến!” và ngài phân tích những vui thỏa tinh thần và vật chất của thiên đàng đó. Các linh mục bản xứ, các nữ tu, các vị tuyên xưng đức tin, các kitô hữu, tất cả đều đầy tận tâm không ai bằng đối với các vị thừa sai, một nhà thờ tuyệt đẹp, một nhà thuốc đầy đủ, một thức ăn dồi dào và trong lành. Khung cảnh đầy quyến rũ, nhưng nhất là sự cống hiến thật chân tình, bàn tay giang ra đầy hào hiệp làm cho cha Brillet chấp nhận cách vồn vã và đầy lòng biết ơn.
Tuy nhiên dầu những sự tận tâm tăng dần chung quanh người bệnh đáng thương, việc lành bệnh vẫn chậm chạp, rất chậm; có những ngày buồn bã, mhững giờ khắc thất vọng không mong chữa lành. Sự ngồi không đè nặng con tim người bệnh, dưới nụ cười của ngài, người ta cảm nhận một nỗi đau đớn chua chát. “Ôi! thừa sai, thỉnh thoảng người ta nghe ngài kêu lên, tôi là thừa sai tông đồ, và tôi không làm gì cả, chẳng làm gì cho Chúa, cũng như cho các tín hữu, tôi luôn nằm trên giường hoặc trên ghế dài, chẳng làm gì cả; cả cuộc đời tôi là thế”. Và những tiếng thổn thức ngắt quảng cuộc độc thoại xé lòng đó. Nhưng chẳng bao lâu lời kinh nguyện đưa ngài về lại yên tĩnh trong tâm hồn trĩu nặng và niềm tin nói với ngài rằng sự nhẫn nhục chẳng phải là một nhân đức vô bổ.
Tuy nhiên dần dần những cơn khủng hoảng thưa đi, cuối cùng dứt hẳn. Thực là một ngày tốt đẹp khi người anh em này chỉ còn yếu buồng ngực, đi đến Thuận Hiệp, thiết lập một nhiệm sở mới. Hoạt động trước kia của ngài phần lớn đã trở lại, ngài xây dựng một nhà thờ, một nhà xứ, một nhà làm trường học. Tiếc thay các công việc đó nhanh chóng bào mòn sức lực của ngài, sự yếu ốm dai dẳng càng tăng thêm mỗi ngày; nhưng niềm vui vẫn trọn vẹn. Đàng khác, nếu ngài không thể thăm viếng các họ đạo xa nữa, ngài vẫn còn công việc trí thức làm niềm an ủi; ngài không để cho việc đó trôi đi. Ngài đọc nhiều, đọc rất kỹ, và liên tục, có phương pháp và suy tư, biện luận thần học, lịch sử, khoa học, không có môn gì mà ngài không để ý; ngài sẵn sàng chia sẻ những gì đã đọc được, và nói chuyện với ngài thật đầy hứng thú khi tiếp xúc và trao đổi với ngài; người ta thưởng thức lời ngài, rõ ràng, lanh lợi, mạnh mẽ, đôi khi gợi hình, các ý tưởng tiếp theo những chuyện kể, các sự kiện tiếp theo những lý thuyết, các dự định tiếp sau những lời khuyên.Vào năm 1879, ngài được đặt ở Chợ Lớn, được các sơ dòng thánh Phaolô thành Chartres chăm sóc lảm cho ngài có phần tươi lên .
Thành phố Chợ Lớn có hơn 50.000 cư dân, trong đó có vài trăm giáo dân cả Hoa lẫn Việt; vị tiền nhiệm của cha Brillet chỉ biết tiếng Hoa nên ít lo được cho người Việt. Người anh em của chúng ta bao lâu sức khỏe cho phép lo bù đắp sự bỏ sót ngoài ý muốn đó; gần ngôi nhà thờ cũ, ngay trong sân nhà xứ, ngài dựng lên một ngôi nhà nguyện đơn giản nhưng đẹp đẽ, giúp các giáo dân người Việt có thể hoàn toàn tự do đến để thỏa mãn lòng đạo của mình. Vài tháng sau đó, ngài còn phụ trách những cộng đoàn kitô hữu mới hình thành ở quanh vùng Chợ Lớn; nhưng những cố gắng đó cuối cùng làm ngài kiệt sức, từ lúc đó ngài chỉ có yếu dần. Trước tiên ngài được chủng viện Sài Gòn cho nương nhờ, rồi đến dưỡng đường Hồng Kông; và ngày 26 tháng 05 vừa rồi, cha Patriat viết cho các vị điều hành Chủng Viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại bức thư sau đây, cho chúng ta biết về những giây phút cuối cùng của người anh em với những chi tiết rất hay:
“Ngày 22 tháng này, lúc 11 giờ 20 sáng, an nghỉ trong Chúa người anh em rất thân yêu Martin-Henri Brillet, hưởng dương khoảng 41 tuổi. Đã 10 năm nay người anh em rất thân yêu này kéo lê cơn bệnh vừa mở ra cho ngài cánh cửa vào cõi Vĩnh Hằng, đã hơn sáu tháng ngài không thể ngủ được. Sự dồn ép đến độ làm cho ngài bị ngộp thở ngay khi nằm ngửa ra. Không bao giờ ngài phàn nàn điều đó, sự nhẫn nhục chịu đựng cách quảng đại và liên tục của ngài không chỉ nên như bài học cho chúng tôi, nhưng còn làm cho chúng tôi kính phục, cho đến hơi thở cuối cùng, đúng 4 tuần sau cha Delétraz thân yêu. Ngài không hấp hối, ngài thực sự an nghỉ trong Chúa, cách nhẹ nhàng và thánh thiện như ngài đã sống. Bằng cách đó Thiên Chúa đón nhận những kẻ được tuyển chọn trên cõi đời này để làm đông thêm cõi thiên đàng”.

Nguồn ảnh: irfa.paris
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ biên tập