Vài tháng sau trận dịch tả lớn (1849), Đức Cha Pellerin đến Kẻ Sen cuối Miền Truyền Giáo và ở đó một tháng rưỡi. Hồi đó cha Galy làm quản xứ kể lại:
“Tôi biết rằng Đức Cha Phó đang ở trong vùng của chúng tôi để giảng tĩnh tâm cho một cộng đoàn nữ tu và cử hành nghi thức mặc áo dòng cho nhiều tập sinh, cách nơi tôi ở chừng một ngày rưỡi đường.
Một tấm giấy ngài viết cho tôi biết lúc nào ngài đến Kẻ Sen. Tôi nhìn đồng hồ chỉ một giờ sáng và cả một sự thinh lặng bao phủ ngôi làng. Sự chậm trễ bắt đầu làm tôi lo lắng. Cuối cùng tôi nghe tiếng chó sủa. Người ta kêu lên “Đức Cha Phó đến” và họ ra mở cổng. Đây là đoàn tháp tùng Vị Giám mục.
Nhưng Đức Cha đâu? Ở giữa một đoàn giáo lý viên ăn mặc chỉnh tề, tôi nhận ra một người trẻ vai hẹp, đi chân không, và tay cầm gậy. Dáng mặt trắng nhạt kia cho tôi biết đây không phải là một người Việt. Rồi vầng trán rộng kia mà nhiều sợi tóc bắt đầu không còn mọc được nữa, gò má nhô lên, cằm hẹp, đôi mắt đen nằm sâu trong hố mắt và được bao quanh bởi các quầng xanh nhạt, không bao giờ có thể đó là Đức Cha Pellerin. Tôi dám chắc thân mẫu ngài cũng không thể nhận ra ngài qua những nét đó.
Sự bất định của tôi nếu có thì chỉ kéo dài một chút thôi, cho đến khi Đức Cha đổ nước rửa chân. Chúng tôi ôm lấy nhau một lúc, mà không thốt ra được một lời nào. Không cầm được cảm xúc và cả nhọc mệt, Đức Cha nằm dài trên giường ở phía sau.
Tôi muốn nói, nhưng lưỡi tôi líu lại chẳng phát âm được gì. Tuy nhiên tôi nhớ đến một thứ rượu tuyệt diệu mới nhận được từ Toulouse. Tôi mời Đức Cha uống một ly làm cho ngài bỗng chốc lấy lại sức như phép lạ. Tôi bắt đầu bình tĩnh trở lại và cuộc chuyện vãn khởi sự vui vẻ, khi các người tháp tùng yêu cầu chúng tôi nghỉ ngơi một chút…”

Tin về việc Đức Cha đến thăm chẳng bao lâu lan ra khắp cả vùng. Đây là một biến cố lớn đối với cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé, chưa nói đến việc các giáo lý viên luôn tìm cách bày tỏ lòng tôn kính.
Các phái đoàn của các họ đạo khác nối đuôi nhau từ sáng tới chiều. Đức Cha chẳng ao ước gì hơn là được tiếp xúc trực tiếp với họ. Kẻ Sen là nơi duy nhất người có đạo sống thành một khối với nhau; còn ở các nơi khác, họ sống lẫn lộn nhiều ít giữa lương dân, và do đó không thể làm nơi trú ẩn thường xuyên cho các thừa sai. Với lý do nhà tôi quá nhỏ, chúng tôi đã xin biến nhà của chủ vườn thành nhà nguyện để vị Giám mục hành lễ. Các giáo lý viên là những người đầu tiên lo dựng một bàn thờ và những vật dụng cần thiết.
Ngay ngày đầu tiên, nhiều bà con của chủ vườn và nhiều người ở gần đó đã tham dự thánh lễ. Ngày hôm sau, Đức Cha đã có một cử tọa khá đông để có thể cho một bài giáo huấn nhỏ. Mỗi ngày cử tọa càng đông đúc ao ước chiêm ngắm và nghe Đức Cha nói chuyện đến đầy nhà đầy sân…
Đồng thời Đức Cha truyền đặt một tòa giải tội trong nhà nguyện của ngài, tòa của tôi đã có sẵn trong nhà các nữ tu. Cả một đoàn đông đúc đến nhà thờ, có ba thầy thần học chuẩn bị các hối nhân cũng ở chính nơi mà Đức Cha và tôi đang giải tội. Trừ ra một khoảng thời gian sau cơm trưa dùng để sắp đặt các việc bên ngoài và xét xử các tranh chấp, còn cả ngày chúng tôi lo giải tội.

Tất cả những ai trong vùng chưa chịu phép Thêm Sức chuẩn bị lãnh nhận vào Chúa Nhật tới. Đức Cha sẽ ban phép Thêm Sức long trọng tại nhà thờ.
Cả một đoàn dân đông nghẹt chờ đợi tại đây. Từ chân bàn thờ cho đến cửa chính, chỉ thấy đầy nghẹt đàn ông, đàn bà và trẻ con, chen chúc nhau, mồ hôi đầm đìa… Khi Đức Cha ngỏ lời, đám đông này chen chúc nhau lại gần bàn thờ hơn nữa với lòng ao ước đạo đức. Chuyển động này có vẻ lộn xộn một chút thôi, rồi lại bắt đầu chăm chú hơn… Chẳng bao giờ có một diễn giả được ở trong hoàn cảnh đặc biệt như thế: đền thờ là một căn trại, được trang hoàng như nhà thờ, thính giả là những Kitô hữu đáng thương, khóc trong thinh lặng và từ hai mươi năm nay sống trong bầu khí bách hại, chỉ mong bảo vệ được những nghi lễ bị cấm đoán trong bóng đêm tăm tối. Xin các người dân tốt lành ở Brest miễn chấp cho, chắc rằng Đức Cha Pellerin không muốn đổi ngai tòa bằng tre của ngài và cử tọa ở Kẻ Sen thay cho ngai tòa và cử tọa sáng chói trước đây ở Saint-Louis.
Vào lúc gà gáy lần thứ hai, nghi thức kết thúc. Thay vì về nơi tạm trú dưới tán lọng che và tiếng trống, ngài thoát nhanh không nghi thức. Đức Cha Pellerin đã thành lập Hiệp hội Thánh Tâm và Mân Côi. Đó là dịp để mừng long trọng hai lễ đẹp đẽ này, một ở Kẻ Sen và một ở Kẻ Bàng.
Thời gian Đức Cha lưu trú kéo dài một tháng rưỡi. Mọi thời gian trong ngày đều dành cho việc giải tội và thăm viếng. Chúng tôi dành một phần đêm cho các cuộc chuyện vãn thân tình. Dầu các cuộc chuyện vãn này vui thú đến đâu, thì việc thiếu giờ ngủ cuối cùng làm cho chúng tôi sinh bệnh. Nhất là Đức Cha vất vả công việc hơn tôi nhiều không thể đương nổi lâu dài kiểu sống này. Nhưng một đàng là may, một đàng là rủi, các công việc cấp bách gọi Đức Cha về Bình Định. Bấy giờ là thứ năm, Đức Cha sắp đặt rời chúng tôi vào chiều Chúa nhật tới.
Giây phút buồn bã này làm các tín hữu lo lắng đến như một tia chớp. Tôi hết sức cố gắng vững tâm chịu đựng. Ngày Chúa nhật, lúc hai giờ rưỡi chiều, tôi còn lại một mình trong căn nhà hoang vắng.
Cuộc ra đi của Đức Cha làm cho tiếng khóc xé lòng vang lên tận những ngôi làng kế cận và nghe được rất lâu ngay tại nhà tôi đang ở. Tôi biết rằng các lương dân ngạc nhiên vì những tiếng khóc than inh ỏi này và nói với nhau rằng: “Đó là vị lãnh đạo của người Da tô đã viếng thăm con cái mình; giờ đây ông ấy ra đi, nên họ khóc thương buồn bã. Ồng đi đâu? Ai mà biết. Các quan chắc vui lắm nếu biết được”.
Đây là giai đoạn cuối cùng Đức Cha Phó viếng thăm vùng xa nhất của Miền Truyền Giáo sau khi đã khởi sự cuộc viếng thăm mục vụ cách đây ba năm.
Trong thời gian ở Kẻ Sen, công việc cấp bách gọi Đức Cha về Bình Định. Một bức thư của Đức Cha Cuénot gửi tới mời ngài về để thông tri cho ngài đoản sắc đề ngày 27 tháng 8 năm 1850 chia Đông Đàng Trong thành hai giáo phận. Ba tỉnh phía bắc (Thừa Thiên, Quảng Trị và Quảng Bình cho đến sông Gianh) nhập thành một giáo phận mới gọi là Bắc Đàng Trong với Đức Cha Pellerin làm Đại Diện Tông Tòa. Cũng một đoản sắc đó ban cho Đức Cha Pellerin năng quyền tấn phong một giám mục phó hiệu tòa Gadara tùy ngài chọn.
Ít lâu sau vào giữa tháng 9 năm 1850, Đức Cha Pellerin đã đến Bình Định bên Đức Cha Cuénot và hai vị Giám mục chuẩn bị chia địa phận. Tất cả trải qua tốt đẹp không có trắc trở nào và đầu năm 1851, Đức Cha Pellerin về giáo phận mới của mình.
Số các Kitô hữu lúc đó của Giáo Phận Bắc Đàng Trong khoảng 24.000. Hàng giáo sĩ gồm 2 vị thừa sai: cha chính Sohier ở Di Loan và cha Galy ở Kẻ Sen; 10 linh mục bản xứ, mà chỉ có 6 vị mạnh khoẻ.
Để đáp ứng mọi điều chẳng lành có thể xảy ra, nhân dịp năm Toàn xá, Đức Cha nhanh chóng chọn và tấn phong một Giám mục Phó. Ngài chọn cha Chính Sohier.
Lễ tấn phong được tổ chức tại Di Loan ngày 17 tháng 8 năm 1851. Khách mời gồm bề trên mỗi cộng đoàn dòng tu (communauté religieuse), các giáo lý viên lớn (grands catéchistes) của mỗi tỉnh, hai giáo lý viên đứng đầu của mỗi giáo xứ, cùng với nhiều giáo dân thường nhiệt thành và tận tuỵ góp phần lo cho Miền Truyền Giáo. Mặc dầu có cuộc bách hại, nhưng những người được mời đều có mặt. Cũng thế hầu như tất cả các linh mục bản xứ đều tham dự nghi lễ.
Ngày 17 tháng 9 năm 1851, Đức Cha gửi lá thư mục vụ đầu tiên cho riêng các linh mục và giáo sĩ của Miền Truyền Giáo, Ngài viết:
“Vào giờ phán xét cuối cùng, chúng ta sẽ phải trả lẽ về những bổn phận của mình, cũng như về những tín hữu được giao cho chúng ta chăm sóc và cả những lương dân mà chúng ta đã lơ là trong việc làm cho trở lại, nhưng trước hết về thái độ tốt lành của những chủ chăn đối với đàn chiên, về sự dạy dỗ và việc làm của chúng ta. Đó là một trách nhiệm hiểm nghèo mà chúng ta chỉ nhờ ơn Chúa giúp mới đạt đến đích. Các linh mục phải khẩn cầu các ơn này cùng với chúng tôi và cho chúng tôi; các ngài phải nhớ bổn phận này đối với đoàn chiên. Chúng tôi xin phó dâng cả Miền Truyền Giáo cho Đức Mẹ… Tòa Thánh đã ban phép cho chúng tôi chọn một Giám Mục Phó với quyền kế vị. Các cha đã biết điều này từ lâu. Tất cả những gì ngài truyền sẽ phải được thực hiện như chính chúng tôi truyền dạy vậy.
1. Chúng tôi thông truyền cho các cha những năng quyền như đã có từ trước…
2. Tất cả những luật lệ cũ thời Đức Cha Labartette có hiệu lực trước đây vẫn được chúng tôi duy trì; cũng như những điều khoản (prescriptions) của Công đồng 1841 (Gò Thị). Bổng lễ cũ của các lễ requiem và các lễ khác vẫn còn hiệu lực cho đến khi có chỉ thị mới.
3. Các cha có thể sắp đặt các của cải cộng đoàn:
a/ để nuôi các giáo lý viên trong thời gian học và sắm cho họ một áo trắng (habit blanc)
b/ để trang trải chi phí cho việc rửa tội các trẻ em lương dân nguy tử
c/ để dạy các kitô hữu nghèo, hoặc nhỏ hoặc lớn. Đối với tất cả các phí tổn khác không được nói đến, sẽ phải báo cho chúng tôi trước.
d/ mỗi linh mục phải có với mình một hoặc hai người rửa tội (baptiseurs) để lo các trẻ em ngoại giáo nguy tử. Tôi nhấn mạnh điểm này, vì quá thiếu những lớp người này trong giáo phận mới của chúng ta.
4. Mỗi tháng, mỗi cha phải gửi một bản báo cáo về tình trạng của giáo xứ mình, như luật cũ đòi hỏi. Hiện nay điều này sẽ là một việc dễ dàng.
5. Trong phần lễ quý xin đọc: pro vicario nostro apostolico Francisco Maria. Ngày lễ Mân Côi phải thêm vào lời nguyện thánh lễ pro anniversario consecrationis episcopi và đọc “Franciscum-Mariam, episcopum Bibliensem. Cũng như vào Chúa nhật intra octavam Assumptionis B.M.V, sẽ phải đọc cũng lời nguyện đó cho Đức Cha Phó: Josephum-Hyacintum, episcopum Gadarensem.
Làm tại Di Loan, ngày 17 tháng chín 1851
Franciscus-Maria-Henricus-Agathon Pellerin, episcopus Bibliensis.
De mandato ill.vicarii apostolici.
Thomas Hữu, secretarius
Hai tuần sau, xuất hiện lá thư mục vụ thứ hai gửi riêng cho các nữ tu, ký ngày Lễ Mân Côi năm 1851 (không ghi nơi ký). Đức Cha phải gánh một trách nhiệm nặng nề, tha thiết xin các nữ tu cầu nguyện, nhất là khẩn cầu Đức Maria Vô Nhiễm, Ngài nói:
“Trong Miền Truyền Giáo mới của chúng tôi, các tu viện chiếm một chỗ ưu tiên, và chúng tôi cũng sẽ chăm lo đặc biệt. Những điều bó buộc các nữ tu gắt gao hơn đối với các tín hữu bình thường và sự thánh thiện của giáo dân bình thường không đủ cho các nữ tu, nên họ phải trung tín đáp ứng với những ân sủng đặc biệt…”
Một bức thư mục vụ thứ ba viết ngày 18 tháng tám 1852 cho hàng giáo sĩ Miền Truyền Giáo, nhắc lại lệnh truyền chương 8 của công đồng Gò Thị: tìm tòi và nuôi dưỡng các chủng sinh đàng hoàng và có khả năng để gửi họ sang Học viện chung. Không ai có thể được gửi sang đó trước khi trải qua một năm giúp một linh mục; mỗi chủng sinh phải trình diện với một chứng thư thích hợp. Những người nghi ngại phải được cho về không chậm trễ.
Chớ gì các linh mục gửi về tất cả chi tiết liên quan đến các hiệp hội được thiết lập nơi các ngài: Hội Trái Tim Đức Maria, Hội Mân Côi v.v.; trụ sở ở đâu? số hội viên? Ước gì những ai còn những bổng lễ dư ra chuyển cho những cha đang thiếu hoặc cho Đức Giám Mục.
Chủng viện được thiết lập tại Di Loan năm 1849 đã bị gỡ bỏ vào tháng 6 hoặc tháng 7 năm 1852, có lẽ theo lệnh của Đức Cha Pellerin, để tránh sự phá hủy hoàn toàn. Ngày 29 tháng 9 năm này (1852) Đức Cha viết:
“Năm nay, chúng tôi vẫn phải chịu bao truân chuyên, bởi vì cuộc bách hại ngày càng dữ dội… Tôi suýt bị bắt…Tôi đã phải lâm bệnh nặng và thập tử nhất sinh trong vòng15 ngày… Vụ mùa mới đây lại mất… Gió bão lớn lật đổ tất cả và lụt lội gây nhiều tổn thất nặng nề. Tất cả những điều đó như là hình phạt cho cuộc bách hại. Chủng viện hoàn toàn bị hư hại đã có thể sửa chữa lại hoàn toàn”.
Một bức thư chung cho hàng giáo sĩ đề ngày 2 tháng giêng 1853 cho chúng ta biết về đời sống đạo trong năm 1852: trên tổng số 24.500 giáo dân, số xưng tội mùa Phục Sinh chỉ có 12.453, số xưng tội do lòng sốt sắng là 8.170, có 1.460 trẻ em con nhà có đạo được rửa tội, 364 trẻ em lương dân, 114 người lớn và 736 người chịu phép Thêm Sức. Tiếp theo đó là lời bình của Đức Cha: “Các số này ít ỏi quá. Đúng là nhiều thợ gặt tông đồ phải bệnh tật, những người khác thì bị cuộc bách hại cản trở, nhưng cũng có nhiều người đã không làm hết bổn phận của mình”.
Một bức thư dịp Noel 1853 cho chúng ta biết những biến cố chính yếu trong năm này. Đức Cha đã có thể phong chức hai tân linh mục, hai phó tế và 4 thầy chức nhỏ. Chủng viện đã phải nghỉ trong 3 hoặc 4 tháng, và sau các kỳ nghỉ bất đắc dĩ này, khoảng 50 chủng sinh đã tựu lại để tiếp tục học, cho dầu thỉnh thoảng có báo động. Trong thời gian nghỉ dạy thần học, Đức Cha đã có thể thăm viếng một phần lớn Miền Truyền Giáo và ngay cả trú lại trong kinh thành Huế. Có một đêm giảng rất gần đền Vua, ngài quên nên nói giọng hơi quá lớn và các tín hữu đã phải nhắc ngài trở lại với thực tế.
Ngày 10 tháng giêng 1854, mặc cho tình trạng sức khỏe yếu kém, Đức Cha cũng đã thông tri cho hàng giáo sĩ số liệu năm 1853, hầu hết đều tiến triển hơn năm 1852. Số xưng tội mùa Phục Sinh vượt hơn năm trước 3.000 lượt, số xưng tội do lòng sốt sắng vượt hơn 4.600 lần. 279 người lớn được rửa tội, 1.116 người được Thêm Sức, ban phép hôn phối cho 205 đôi, ban phép Xức dầu thánh cho 550 người cùng 373 Của Ăn Đàng và 646 trẻ em lương dân được rửa tội.
Vào cuối năm 1853, cha Galy đã vĩnh viễn rời Kẻ Sen để tìm một nơi trú ẩn tại Đàng Ngoài trong những giáo xứ nghèo và ít được biết đến nhất. Cha Choulex đến ở với Đức Cha Pellerin vào tháng 7 năm 1854, nhưng ngài khó thích nghi với khí hậu. Cả hai vị lo cho một cuộc tĩnh tâm chịu chức tại Di Loan đã vội vàng chạy trốn và bỏ lại tất cả. Cha Choulex trải qua 3 tháng làm mồi cho bệnh sốt, nằm trên nền đất trong một túp lều tại Bái Trời. Căn nhà ở Kẻ Sen mới làm đã phải bị phá huỷ lại. Đức Cha Sohier ở cuối vườn, gần một cộng đoàn nữ tu tại Kẻ Sen phía Bắc Miền Truyền Giáo. Cuối năm 1854, số các linh mục bản xứ gồm cả các vị bệnh tật là 20.
Một bức thư của Đức Cha Pellerin viết ngày 10 tháng giêng 1855 gửi các linh mục cho biết rằng số liệu năm 1854 thấp hơn nhiều so với 1853. Số xưng tội mùa Phục Sinh nhìn chung cũng không đạt được nửa số giáo dân, mặc dầu số xưng tội do lòng sốt sắng tạm được. Chỉ có 53 người lớn được rửa tội, cùng với 44 người đang học đạo. Số Thêm Sức là 347 thấp hơn bao giờ hết. Số các trẻ em lương dân nguy tử được rửa tội là 688. Đức Cha khen đặc biệt 2 linh mục và khiển trách vài vị lơ là.
Đức Cha viết:
“Hãy tin tưởng phó thác cho Chúa và Đức Mẹ. Chúng ta sẽ không bị cám dỗ vượt quá sức mình. Nếu Thiên Chúa còn muốn có thêm vài vị tử đạo, thì đó sẽ là niềm hạnh phúc lớn lao nhất cho những ai được như thế. Chẳng bao lâu nữa Satan sẽ kiệt lực, nhưng nó chỉ bị quật ngã hoàn toàn nhờ ơn đặc biệt của Đức Maria Vô Nhiễm mà chúng ta không thôi cầu khẩn để Nước Chúa tiến triển. Xin các cha cho chúng tôi biết số kitô hữu đang bị đói kém, chúng tôi sẽ làm hết sức để cứu giúp họ”.
Một ít lâu sau khi công bố sắc lệnh 18 tháng chín 1854, các quan chức và lính tráng có đạo đều được báo cho biết những điều khoản liên can đến mình; nhưng một năm sau đó, sắc lệnh của nhà vua, dầu đã được gửi cho các quan đầu các tỉnh, vẫn chưa được thông truyền cho các vị trưởng các tổng, các làng.
(Còn tiếp)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ