Ngày 22.10: Thánh Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng

22/10/2025

1. SAY MẾN CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ

Từ thuở nhỏ, cậu bé Karol đã chứng tỏ một tâm tình đạo đức sâu xa. Mỗi sáng trước khi đến trường, cậu luôn luôn ghé lại nhà thờ cầu nguyện trước Thánh Thể Lòng đạo đức của song thân đã ảnh hưởng nhiều đến cậu: “Chính mẹ tôi đã dạy cho tôi cầu nguyện và say mến Chúa Giêsu Thánh Thể. Sau khi mẹ tôi chết, rồi tiếp theo đó người anh cả cũng chết theo, và như vậy tôi sống đơn côi với cha tôi. Sau khi mẹ tôi qua đời, cuộc sống của ngài trở thành lời cầu nguyện liên lỉ. Chỉ nhìn ngài quỳ gối tôi cũng đã nhận được một ảnh hưởng quyết định những năm niên thiếu của tôi”.

Thật vậy, cầu nguyện là nền tảng mọi hoạt động nhân bản và mục vụ của Ðức Gioan Phaolô II. Khi lên ngôi Giáo Hoàng, dù bận bịu biết bao công việc, mỗi ngày ngài dành nhiều giờ trước Thánh Thể. Ngài cổ võ mạnh mẽ cho việc tôn sùng Thánh Thể.

2. SÙNG KÍNH MẸ MARIA

a/ Khẩu hiệu của Ngài là “Totus Tuus”.

Ðây là những chữ trong kinh dâng mình cho Ðức Mẹ của thánh Grignion de Montfort, mà ngài đã đọc và sống từ những ngày còn trẻ: “Tất cả của con là của Mẹ, con hoàn toàn thuộc về Mẹ”. Khi được chọn làm Giám mục Phụ tá Krakow, ngài đã ghi tên Mẹ vào trong huy hiệu làm châm ngôn phục vụ.

b/ Ngài rất yêu mến Mẹ Maria.

Ngay từ những năm đầu triều đại Giáo Hoàng, Ngài đã nêu gương tôn sùng Ðức Maria. Nếu Thông điệp Redempror Hominis (1979) là xác quyết lòng tin và là đề cương cho việc phục vụ Dân Chúa, thì Thông điệp Redemptoris Mater (1987) chính là đối xứng về tấm lòng noi gương Ðức Maria mà phục vụ Ðấng Cứu Thế.

Ngài gắn bó với những truyền thống tôn vinh Ðức Maria đặc biệt là đích thân đến kính viếng Ðức Mẹ tại những nơi được truyền thống mỗi dân tộc nâng niu tôn kính. Khi ngỏ lời với con dân Việt Nam, ngài không bao giờ quên nhắc đến Ðức Mẹ La Vang.

Tháng 10.2002, chuẩn bị mừng 25 năm Giáo Hoàng, Ngài gửi đến mọi thành phần dân Chúa bức Tông thư “Rosarium Virginis Mariae” về Kinh Mân Côi, lặp lại xác tín và lòng yêu mến Ðức Mẹ.

c/ Biến cố đặc biệt ngày 13.05.1981.

Ngài đã được Ðức Mẹ cứu sống một cách lạ lùng trong ngày 13.05.1981. Hôm đó là cuộc tiếp kiến vào Thứ Tư hằng tuần bắt đầu lúc 17g00. Sau khi Ngài ôm hôn một em bé, một thanh niên Thổ Nhĩ Kì, Ali Agca, 23 tuổi, đã nổ liên tiếp nhiều phát súng vào Ngài. Ali Agca chỉ đứng cách ngài khoảng 20 bước và 02 viên đạn 09mm có sức công phá rất lớn đã gây thương tích ở bụng, cùi tay bên phải và ngón tay trỏ ở bàn tay trái Ngài.

Ngài ngã xuống. Ngay lập tức, Ngài được đưa đến Bệnh viện Gemelli. Ngài nhắm mắt, rất đau đớn nhưng không ngừng lặp lại những lời nguyện tắt “Maria, Mẹ của con”.

Cuộc giải phẫu do 05 bác sĩ thực hiện, kéo dài 05 giờ 20 phút. Thật lạ lùng, viên đạn đã không hủy diệt một cơ quan chính yếu nào cả. “Nó đi gần động mạch chính vài mm thôi. Nếu nó đi trúng động mạch đó thì chết tức khắc”. Ngay hôm sau vụ mưu sát, vừa mới tỉnh, câu hỏi đầu tiên của ngài là: “Chúng ta đã đọc kinh tối chưa?”. Lúc đó đã 12 giờ trưa.

Lúc ngài quá yếu không tự đọc kinh nhật tụng được thì mọi người xung quanh đọc lớn tiếng trước mặt Ngài, để Ngài hiệp thông. Mỗi buổi chiều Ngài cử hành Thánh lễ và đọc kinh cầu Ðức Mẹ.

Sau này Ngài thuật lại: “Ngay lúc tôi ngã xuống tại quảng trường Thánh Phêrô, tôi đã có linh tính rõ rệt là tôi sẽ được cứu. Ngày đó, bàn tay của một người siết cò súng để hại tôi, nhưng bàn tay của một Ðấng đã lái hướng đi của viên đạn để cứu tôi”.

Sự che chở của Mẹ Maria đã cứu thoát Ngài trong biến cố đó, đã được chính thức hóa bởi ngày xảy ra biến cố: ngày kỉ niệm Ðức Mẹ hiện ra lần đầu tiên tại Fatima (13.05). Một năm sau, vào các ngày từ 12-15.05.1982, Ngài đi Fatima tạ ơn Ðức Mẹ và dâng cho Mẹ viên đạn do Ali bắn vào Ngài. Viên đạn này đã được kết vào triều thiên của Mẹ.

Ngày 12 và 13.05.2000, Ðức Gioan Phaolô II đã hành hương Fatima lần thứ ba trong nhiệm kỳ Giáo Hoàng của Ngài. Ngài đã tuyên Chân phước cho hai trẻ: Phanxicô và Giaxinta, và để tạ ơn Mẹ Maria về sự che chở của Mẹ trong suốt nhiệm kỳ Giáo Hoàng của Ngài.

Vào Tháng Mân Côi năm Ðại Toàn Xá 2000, tượng Ðức Mẹ Fatima được rước từ Bồ Ðào Nha về Rôma, và Chúa Nhật 08/10/2000, Ngài long trọng tận hiến toàn Giáo Hội và thế giới cho Trái Tim vô nhiễm Mẹ Maria.

Ngài rất trung thành với Chuỗi Mân Côi, Ngài lần hạt từng ngày. Thông điệp Redemptoris Mater (Mẹ Ðấng Cứu Ðộ), công bố ngày 25.03.1987, để chuẩn bị Năm thánh Mẫu (1987- 1988). Tông thư Rosarium Vigilis Mariae (Kinh Rất Thánh Mân Côi) công bố ngày 16.03.2002. Chính Ngài đã thêm vào Năm Mầu Nhiệm Sự Sáng và công bố Năm Mân Côi (từ 10.2002 đến 10.2003).

3. TÔN KÍNH CÁC THÁNH

Ngài tôn kính đặc biệt đối với các Thánh, nhất là các Thánh tử đạo. Ngài là người đạt kỷ lục trong việc tôn phong các Thánh và Chân phước; 1.322 Chân phước và 457 vị Hiển thánh, trong đó có 117 vị Thánh tử đạo Việt Nam và 120 vị Thánh tử đạo Trung Hoa. Con số vị Thánh và Chân phước được Ngài tôn phong hơn tổng số các vị mà các Giáo hoàng tiền nhiệm tôn phong trong 400 năm trước đó.

Ngài đặc biệt kính mến Thánh Stanislaô, Giám mục tử đạo Ba Lan. Chính cuộc đời của vị Thánh tử đạo này đã soi sáng cho Ngài về ý nghĩa của đau khổ và tử đạo. Năm 1972, nhân dịp kỷ niệm 900 năm Thánh Stanislaô được bổ nhiệm làm Giám mục Cracovia, Đức Hồng Y Woityla đã phát biểu rằng, Thánh Stanislaô đã để lại một dấu ấn không thể xóa mờ trên định mệnh của Giáo Hội cũng như trên định mệnh chính quê hương.

Ngài mất ngày 02.04.2005 tại Rôma, được Giáo hoàng Biển Đức XVI phong là Đấng đáng kính ngày 19.12.2009 và phong chân phước ngày 01.05.2011. Ngài được Giáo hoàng Phanxicô tôn phong hiển thánh vào ngày 27.04.2014, chỉ 9 năm sau khi Ngài tạ thế. Ngài là người sáng lập ra Đại hội Giới trẻ Thế giới nên Ngài được chọn là một trong những vị quan thầy bảo trợ cho nhiều kỳ đại hội này kể từ năm 2008.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được Giáo Hội tôn phong như một mẫu gương thánh thiện cho toàn Giáo hội, vang vọng lời Đức Giêsu: “Các con hãy nên thánh như Cha các con trên trời là Ðấng Thánh” (Mt 5,48).

Lm. Sta-nít-la-ô Nguyễn Đức Vệ