Anphongsô sinh tại Marianella gần Napôli, ngày 27.12.1696. Vào đại học hoàng gia lúc lên 12, nhận thanh kiếm hiệp sĩ lúc lên 14, đậu hai bằng tiến sĩ luật đạo và đời lúc lên 16, làm luật sư và chánh án lúc lên 20 tuổi, nhưng sau đó ngài đã bỏ nghề luật sư để hoạt động tông đồ, sau một vụ biện hộ bất thành năm 1723.

Thụ phong linh mục ngày 21.12.1726, ngài dấn thân ngay vào việc giảng các tuần đại phúc. Trong tuần đại phúc ở Campagna ngài cảm thấy xúc động mãnh liệt trước cảnh thiếu thốn vật chất và nhất là tinh thần của những người nghèo khó tất bạt.
Anphongsô trở về Napôli với ý định: Lập một Dòng tu chuyên lo cho người nghèo khó tất bạt. Tháng 11.1732, ngài từ biệt Napôli lên đường đi lập Dòng. Cùng với bốn anh em linh mục, ngài đến làng Scala, bắt đầu một cuộc sống chung, cùng dâng Thánh lễ, đọc kinh nhật tụng, tự tay làm bếp, lập thành một cộng đoàn tông đồ với mục đích “Tiếp tục công việc Chúa Kitô là rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khổ”.
Ngày 09.11.1732 Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức lập thành với năm sĩ tử. Dần dần nhiều linh mục khác đến xin gia nhập. Các tuần đại phúc lại tiếp tục như trước. Để đáp ứng nhu cầu, ngài lập thêm nhiều tu viện mới. Công việc tông đồ dần dần được tổ chức quy củ. Những bài giảng đại phúc phải bao gồm ba đặc điểm: nội dung siêu nhiên, lời văn giản dị, và nhắm phần thực hành noi theo lời giảng của Chúa trong Phúc Âm.
Anphongsô viết những điều ngài giảng trong tất cả 111 cuốn sách.
Trong số ấy, những cuốn được ưa chuộng nhất là: Viếng Thánh Thể Vinh Quang Đức Mẹ, Cách Tỏ Lòng Mến Chúa, Dọn Mình Chết Lành, Nữ Tu Thánh Thiện, Đại Phương Thế Cầu Nguyện. Năm 1757, ngài ấn hành cuốn Giải Tội Thực Hành, dành cho các cha giải tội, và cuốn sách vĩ đại nhất là cuốn Thần Học Luân Lý.
Dòng Chúa Cứu Thế được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIV công nhận năm 1749 gọi là Congregatio Sanctissimi Redemptoris (viết tắt là C.Ss.R).
Năm 1762, Tòa Giám Mục Sainte Agathe des Goths trống ngôi. Đức Giáo Hoàng Clêmentê XIII đã chọn Anphongsô làm Giám mục. Ngài hết sức từ chối nhưng cuối cùng cũng phải chấp nhận. Việc đầu tiên là tổ chức một tuần đại phúc đại quy mô và trong vòng 10 năm, ngài đã cải tổ lại từ hàng giáo sĩ đến giáo dân, từ những cơ cấu trung ương như các chủng viện đến các họ đạo, biến Sainte Agathe des Goths thành một địa phận gương mẫu.
Tháng 07.1775, Anphongsô đã được 80 tuổi, già yếu bệnh tật, ngài xin từ chức nhưng Đức Clêmentê không cho và nói: “Hình bóng của Anphongsô cũng có thể cai quản địa phận được”. Ít lâu sau, Đức Clêmentê XIII qua đời, Đức Piô VI lên kế vị, đã chấp thuận đơn từ chức. Anphongsô sung sướng trở về lại nhà Dòng ở Pagani để “dọn mình chết”. Nhưng Thiên Chúa còn muốn ngài đi nốt đoạn đường Thánh giá của mình.
Ngày 14.04.1780, Anphongsô triệu tập đại công nghị của Dòng. Toà Thánh đã công nhận bản Hiến Pháp của Dòng, nhưng có những điều khoản không phù hợp với những đòi hỏi của chính quyền Hoàng gia Napôli, nên không được phép thi hành trong nước này.
Một số cố vấn đã phỉnh gạt ngài bằng cách sửa đổi lại bản Hiến Pháp cho phù hợp với ý của chính quyền, và tự động xin sự chấp thuận. Sự kiện ấy đã đưa đến việc Toà Thánh ra lệnh tách rời những tu viện nằm trong nước Napôli ra khỏi Dòng và không công nhận. Ngài bị mất quyền điều khiển và bị coi là không phải thành phần chính thức của Dòng nữa. Rất đau khổ nhưng ngài tuân phục vì “ý Đức Thánh Cha là ý Chúa”.
Ngày 01.08.1787, Anphongsô qua đời, hưởng thọ 91 tuổi. Ngài được tôn phong Hiển Thánh năm 1839 và Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871, đồng thời là Quan thầy các nhà Luân lý và các cha giải tội.
Lm. Sta-nít-la-ô Nguyễn Đức Vệ