
THÁNH MATTHÊU NGUYỄN VĂN PHƯỢNG
Trùm hạt, Tử đạo (1801–1861)
Matthêu Nguyễn Văn Phượng chào đời khoảng năm 1801 (theo sử gia Adrien Launay MEP) tại làng Kẻ Lái, tỉnh Quảng Bình, con ông Nguyễn Văn Bường, cai đội. Cha mẹ đều là người Công giáo đạo đức. Tên gọi của ông là Đắc, trong sổ là Kế, và sau khi lập gia đình, ông mang danh Phượng theo tên trưởng nữ con cả (thói tục bấy giờ).

Thánh Tử đạo Matthêu Nguyễn Văn Phượng
Phục vụ tận lực
Mồ côi cha lúc lên 10 tuổi, hai năm sau lại mồ côi mẹ, cậu Đắc sớm phải tự lực mưu sinh. Anh theo học nghề thuốc với một thầy lang ngoại đạo nhưng tốt lành. Lúc 15 tuổi, thời vua Minh Mạng, anh theo giúp cha Vinh-sơn Nguyễn Thế Điểm (vị tử đạo tương lai) suốt 7 năm liền cách tận tụy như đứa con hiếu thảo. Đổi lại, cha Điểm đã mai mối cho anh cưới một thiếu nữ hiền hậu xứ Sáo Bùn tên Vốn, vào năm anh 22 tuổi. Từ ngày ấy, anh dọn về ở với bố vợ (ông đội Khiêm) tại Sáo Bùn và hành nghề thầy lang, nhưng chẳng cao tay mấy. Vài năm sau, anh chuyển sang buôn bán. Nói chung, anh khá thành công trong nghề mới, nên gia đình luôn được sung túc.
Thời gian thấm thoát, gia đình ông Phượng sinh được 8 người con. Dầu bận rộn với chuyện làm ăn, ông vẫn chu toàn việc giáo dục con cái, sống trọn vẹn giới luật mến Chúa yêu người. Đặc biệt là bằng gương sáng. Chính ông siêng năng xưng tội rước lễ khi có thể. Mỗi tuần ông đều thu xếp thời giờ đi thăm bệnh nhân và đến giúp đỡ bà con nghèo trong khu vực. Khi con cái đã trưởng thành, ông tìm nơi đạo hạnh để thông gia, và chia cho chúng tài sản của mình, chỉ giữ lại những thứ tối cần. Riêng cô con gái tên Thủ thì về sau dâng mình cho Chúa trong dòng Mến Thánh giá.
Năm ông 50 tuổi, vợ từ trần. Ông cho gọi cô Phượng, lúc đó cũng đã góa chồng, đưa các cháu về sống với ông ngoại. Tòan thể giáo hữu Sáo Bùn mến phục tài năng nhân đức của ông, nên cử ông làm Trùm họ. Tiếp đó, ông lại được Đức Cha François Pellerin đặt làm trùm hạt cho Giáo hạt Quảng Bình (1851). Trong hoàn cảnh khó khăn thiếu linh mục, ông Phượng có lắm cơ hội phục vụ dân Chúa. Nhiều trẻ em được ông rửa tội, nhiều người lớn xin theo đạo do lời ông khuyên bảo. Đặc biệt, ông rộng rãi tiếp các linh mục và thầy giảng đến trú ngụ tại nhà mình. Nghe mọi người dự đóan trước cuộc tử đạo ông sẽ phải lãnh nhận, ông mỉm cười và vẫn tiếp tục làm việc bác ái như trước.
Ngày 02.01.1861, cha Gioan Đoạn Trinh Hoan về Sáo Bùn giúp mọi người chuẩn bị lễ Hiển Linh, ông Trùm Phượng hân hoan đón cha về nhà mình. Chẳng biết có ai tố giác không, mà ngay tối hôm sau, quan quân ùa đến vây làng. Cha Hoan lén ra đàng sau tìm cách trốn xuống sông nhưng rồi cũng bị bắt (xem tiểu sử của ngài bên trên). Sau đó, lính kéo nhau đến nhà ông trùm, rồi chia nhau lục soát mọi ngóc ngách xó xỉnh. Khi tìm thấy áo lễ, chén lễ, ảnh tượng và cả tiền bạc cha Hoan nhờ thu giấu, quan quân liền bắt ông Phượng và bảy giáo hữu khác đưa về Đồng Hới .
Trung tín đến cùng
Dù cho quan quân áp dụng đủ cách thức để tra tấn xét khảo hết ngày này qua ngày khác, ông trùm và các bạn nhắc nhở nhau không khai điều gì làm hại đến những người còn lại. Ngay cả khi bị đem đối chất với cha Hoan sau đó, ông vẫn giữ im lặng về mối quan hệ với ngài. Chỉ đến khi quan dọa tra tấn con cái, ông mới thú nhận mình có mời cha lưu lại nhà, nhưng cương quyết không chịu bước qua Thập giá hầu tỏ ra mình bỏ đạo. Quan bèn kết thúc biên bản để gởi về triều đình.
Ở dinh quan án lúc ấy có viên lục sự trẻ tuổi đem lòng yêu thương cô Thủ, con gái ông trùm, nên nói với ông: “Nếu bác gả con gái cho cháu, cháu hứa hết sức sẽ lo cho bác được tự do.” Ông đáp : “Không được đâu, trừ phi chính anh theo đạo. Vì dù anh là ông ký hay ông quan đi nữa mà vẫn lương dân, tôi sợ gả nó cho anh thì khó giữ mãi đức tin được. Nếu vì giữ đạo mà phải chết, tôi sẵn sàng.”
Suốt thời gian chờ đợi phán quyết tối hậu, ông trùm không còn bị hành hạ và được khá tự do. Nhưng ông vẫn muốn sống khổ chế bằng cách bảo người nhà chỉ gởi gạo cùng cá khô để ông tự nấu ăn lấy, đồng thời chỉ nhận áo quần cũ để mặc. Ông siêng năng cầu nguyện và nếu có ai đến gặp lúc ông đang tâm sự với Chúa thì ông bảo hãy chờ. Con cháu đến viếng thăm thường được nghe ông khuyên nhủ: “Cha vui lòng chấp nhận số phận. Phần chúng con thì hãy yêu thương nhau, sống khôn ngoan đạo hạnh, giúp đỡ nhau cả tinh thần lẫn vật chất ; và dù có gặp tai họa nào đi nữa, vẫn cứ trung thành giữ đạo. Đừng bao giờ để mình đi đến chỗ chối Chúa vì yếu đuối.”
Ngày 25.05.1851, bản án của triều đình đã về tới Đồng Hới. Ông trùm bị trảm quyết (chém đầu) vì “oa trữ đạo trưởng”. Ông vui vẻ đi chào giã biệt các bạn tù, để sáng sớm hôm sau sẽ theo chân các lý hình ra pháp trường cùng với cha Hoan. Một người cầm bản án đi phía trước viết: “Triều vua Tự Đức năm thứ 14. Người này tên Nguyễn Văn Đắc, tức Phượng, là tín đồ Gia-tô. Kẻ đã đang tâm bao che đạo trưởng Hoan. Vì phạm luật nhà nước, mắc trọng tội. Phải tức khắc xử trảm.”
Đến cửa thành Quảng Bình, đoàn người dừng lại một lát. Thân nhân bạn hữu của hai chứng nhân đức tin đã được quan cho phép mang đến ít bánh trái để hai vị lót dạ, nhưng quân lính muốn kết thúc việc hành hình sớm nên đánh đuổi họ đi. Đoàn người lại tiếp tục lên đường. Ông trùm bước thẳng người, mắt cúi xuống. Những kẻ chứng kiến nhận định: “Ông ta ao ước cái chết tới độ tiến về nó mà chẳng nhìn ai.” Đến pháp trường, theo gương cha Hoan, ông Phượng cũng xin khỏi trói, rồi bình tĩnh đến quỳ trên chiếc chiếu của mình, chắp tay lại cầu nguyện. Hai con trai và chị Thủ, ái nữ của ông, tiến đến sát bên, vừa khóc vừa chào vĩnh biệt, nhưng ông can đảm an ủi họ. Sau đó, lý hình đuổi tất cả ra xa. Ngay khi tiếng chiêng nổi lên, đầu vị tử đạo đã rơi xuống và linh hồn vị anh hùng đức tin bay lên nhan Thiên Chúa muôn đời. Thi hài của ông được giáo dân rước về an táng tại họ Mỹ Hương, và hiện nay thì được lưu giữ tại dòng Kín Cát Minh, Tổng Giáo phận Huế.
Thánh Giáo hoàng Piô X đã suy tôn ông trùm hạt lên bậc Chân phước ngày 02.05.1909 và Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II tôn phong lên bậc hiển thánh ngày 19.06.1988.
Ban Biên tập Lịch sử TGP Huế