Ngày 26.05: Thánh Tử đạo Gioan Đoạn Trinh Hoan (Linh mục)

26/05/2025

THÁNH GIOAN ĐOẠN TRINH HOAN

Linh mục, Tử đạo (1798–1861)

Gioan Đoạn Trinh Hoan sinh năm 1798 tại họ Kim Long, Phú Xuân (Huế) trong một gia đình nề nếp, đạo hạnh 3 trai 2 gái. Bố là ông Batôlômêô Sương (gốc Văn Dương) và mẹ bà Ysave Diệm (gốc Kim Long). Cung và Chiến, 2 anh trai của Hoan, về sau chết vì đức tin trong tù. Nhờ sự hỗ trợ của gia đình, cậu đã dâng mình cho Chúa, và theo học tại chủng viện Pénang (Malaisia) của Hội Thừa sai Paris. Học xong thần học, năm 1835, thầy Gioan về nước, giúp Đức Giám mục Đại diện Tông tòa Taberd Từ dịch sách, và thụ phong linh mục năm 1836 tại Sài Gòn do tay Đức Cha Cuénot Thể.

Chân dung Thánh Tử đạo Gioan Đoạn Trinh Hoan

Một tông đồ đa năng trên cánh đồng truyền giáo

Trong 25 năm linh mục, cha Gioan Hoan đã hoạt động tại nhiều vùng (Kẻ Sen ở Quảng Bình, Bái Trời ở Quảng Trị, Kinh đô tại Thừa Thiên). Cha nhiệt tình hoạt động nhưng lại điềm tĩnh, thận trọng và rất thương người, kể cả những tên cướp (có lần cha xin tha cho một tên suýt bị giáo dân chém đầu). Hơn nữa, nhờ biệt tài nói chuyện duyên dáng, nên ở đâu cha cũng được mọi người mến thương. Bị tố giác trong thời kỳ cấm đạo, ngài phải rời Thừa Thiên ra Quảng Bình lại vào năm 1845.

Dưới thời vua Tự Đức, cha là một trong những linh mục bản địa có uy tín nhất do khả năng, tuổi tác và kinh nghiệm họat động lâu năm. Dù phải thay đổi chỗ ở liên tục, thực tế là sống trên thuyền nhiều hơn trên đất, cha vẫn kiên tâm đầu tư tim óc vào việc đào tạo các thầy giảng và hỗ trợ ơn gọi linh mục nơi thanh thiếu niên. Đi đâu, ngài cũng đem theo một đại chủng sinh và 6-7 tiểu chủng sinh, dạy La-tinh cho họ. Anh nào khá, đủ khả năng, ngài trình với Đức cha Cuénot Thể gởi đi du học Pinăng. Học trò ngài được tiến chức linh mục lên tới 12 người. Trong số đó có cha Inhaxiô Lê Văn Huấn và cha Gioan Đoạn Trinh Khoan cháu ruột, cả hai sẽ tử đạo tại Dương Lộc vì bị Văn Thân thiêu sát năm 1885. Cha Hoan còn được giao huấn luyện các tân linh mục. Đức cha Sohier Bình về sau cũng đặt ngài coi sóc hai tu viện Mến Thánh Giá ở Kẻ Bàng và Mỹ Hương.

Một mục tử nhiệt tâm trong chốn lao tù

Dạo tháng 01.1859, lúc đang trốn tại tu viện Mỹ Hương, ngài suýt nữa bị bắt vì có người tố giác. Đầu năm 1861, nhân lễ Hiển Linh, từ Mỹ Hương cha đến xứ Sáo Bùn (Quảng Bình) để thăm viếng, khích lệ giáo hữu, giải tội và giúp họ mừng lễ. Như thông lệ, cha tới trọ nhà ông trùm Nguyễn Văn Phượng. Tối ngày 03.01, quan quân nghe tin báo đến bao vây và truy bắt, cha chạy ra sông tìm đường đi trốn. Mọi chuyện yên tĩnh lại, cha vào bờ và nấp trong một một đống củi, không ngờ bị lính đóng quân gần đó phát hiện. Lính bắt và giải cha vào Đồng Hới. Lúc bấy giờ cha đã 63 tuổi.

Trước tòa án, các quan tỉnh đã dùng mọi hình thức tra tấn dã man, thậm chí nung đỏ kìm sắt kẹp vào đùi và cánh tay, để bắt cha bước qua Thập giá và khai báo tên tuổi những nhà cha đã trú, những người cha đã gặp. Thế nhưng thất bại hoàn toàn. Dù đau đớn đến độ có khi ngất xỉu, cha Hoan vẫn cắn răng không nói một lời, chẳng tiết lộ những gia đình cha đã tạm trú, và dĩ nhiên không chịu chối đạo. Mười hôm sau, quan cho đem ông trùm Phượng và nhiều tín hữu khác bị bắt cùng đêm ở Sáo Bùn ra đối chất với cha. Họ cũng không tiết lộ chi tiết nào về mối quan hệ với vị linh mục và những gì phương hại đến các tín hữu khác.

Vào cuối tháng 03.1861, trước lời quan đe dọa sẽ tra tấn con cái mình, ông Phượng thú nhận có cho cha Hoan trú ẩn. Thế là vị mục tử và ông trùm bị kết án xử tử, cha vì rao giảng “đạo Chúa trời đất”, ông vì “oa trữ đạo trưởng”, còn các tín hữu khác (7 người) lãnh án lưu đầy chung thân. Bản án được gởi về triều đình để vua phê chuẩn.

Khu vực giam cha Hoan cũng có nhiều Kitô hữu, vì chiến dịch bắt đạo tháng 10.1859 đã gom nhiều chức sắc trong các giáo xứ ở Quảng Bình. Vua Tự Đức qua đó trù tính kế hoạch làm áp lực với quân Pháp của tướng Rigault de Genouilly để họ triệt thoái các tầu bè ở Cửa Hàn Đà Nẵng.

Nhờ tài xã giao lịch thiệp, cha Hoan đã chiếm được thiện cảm của lính canh ngục. Ngài có thể dễ dàng đến các phòng giam khác của nhà tù để thăm viếng các tín hữu. Trong mấy tháng tù giam, cha dành rất nhiều thời giờ để giải tội, chúc lành và khích lệ các tín hữu. Nhận được Mình Thánh Chúa ở ngoài gửi vào, cha chia sẻ cho anh em.

Ngày 25.05.1861, bản án về tới Đồng Hới. Trước hôm bị chém đầu, vị mục tử còn đi một vòng thăm các bạn tù lần cuối, giải tội cho ai cần và khuyên nhủ họ: “Giờ sau cùng của tôi không còn xa. Phần anh em, những người con yêu quý, anh em còn ở lại trên trần gian đau khổ này, hãy trung tín đến cùng. Xin cầu nguyện cho tôi hoàn thành trọn ven ý Chúa.” Sáng sớm hôm sau, tù nhân ở các khu khác cũng được phép đến gặp và giã từ ngài. Cha bộc bạch: “Thưa anh em, tôi dám xin mượn lời thánh Phaolô để nói với anh em rằng : Anh em hãy noi gương tôi, như tôi đã noi gương Đức Kitô.” Khi có lệnh ra pháp trường, cha nhanh nhẹn đứng lên, cổ vẫn đeo gông nặng trĩu, bước theo viên cai ngục.

Ra đến cửa, cha gặp ông Phượng, người đã cho cha trú ngụ, cũng bị đem đi xử, hai toán lính nhập làm một. Một anh lính cầm bản án đi trước viết:  “Người này tên Hoan, Gia-tô đạo trưởng, dạy đạo tà và quyến rũ dân chúng. Vi phạm luật nhà nước, mang trọng tội, phải đem xử trảm.” Đến pháp trường nằm ngoài cửa thành Quảng Bình, hai vị quỳ trên chiếu đã trải sẵn. Quan hỏi vị tông đồ có muốn trói vào cột không, cha trả lời: “Chả cần, tôi sẽ quỳ yên không nhúc nhích. Nếu không tự nguyện nhận cái chết, tôi đã chẳng đến đây. Xin cho tôi vài phút để cầu nguyện.”

Sau đó cha ngước mắt lên trời tạ ơn Chúa, giơ tay giải tội cho ông Phượng và ra dấu sẵn sàng. Tay đao phủ được chỉ định, thấy thái độ của cha, biết ngài vô tội nên đã nhờ người khác. Đao phủ mới này không quen đã phải chém đến ba nhát, sau đó dùng gươm cứa đứt miếng da cổ còn sót lại.

Ngài qua đời đúng 63 tuổi, 25 năm linh mục, ăn mừng lễ ngân khánh trên thiên đàng. Hài cốt vị tử đạo sau đó được đặt trong hòm gỗ để tại Đại chủng viện Phú Xuân (nay là Đại chủng viện Huế).

Linh mục Gioan Đoạn Trinh Hoan đã được Thánh Giáo hoàng Piô X suy tôn lên bậc Chân phước ngày 02.05.1909 và Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh ngày 19.06.1988.

Ban Biên tập Lịch sử TGP Huế