
THÁNH PHAOLÔ TỐNG VIẾT BƯỜNG
Quan Thị vệ, Tử đạo
(1773 – 1833)
Phaolô Tống Viết Bường sinh khoảng năm 1773 tại Phú Cam, Phú Xuân (Huế), trong một dòng tộc Công giáo lâu đời, cũng là dòng tộc có nhiều quan lớn, dưới triều vua Lê, chúa Nguyễn. Song thân là ông Nicôla Tống Viết Giảng và bà Maria Lương. Vì tổ tiên đều làm quan, nên khi trưởng thành, anh Bường được chọn vào đoàn vệ binh. Với đời sống thanh liêm và nhiều công trạng, sau một thời gian, ông được thăng chức “đội” và được nhà Nguyễn tuyển vào làm thị vệ (lính hộ vệ nhà vua). Vua Minh Mạng rất hài lòng về việc phục vụ cần mẫn và nhiệt tâm của ông. Dù vậy, ông vẫn không quên bổn phận Kitô hữu : xưng tội rước lễ thường xuyên, tích cực phục vụ giáo xứ. Ông có hai đời vợ, sinh hạ được tất cả 12 người con.
Từ giã quan trường vì đức tin
Vào năm 1831, giặc Đá Vách ở Quảng Nam nổi lên quấy phá, quan quân phải đi đánh dẹp. Ông đội Bường được vua cử đi thanh sát mặt trận. Ông mau mắn chu toàn phận sự và trở về tâu trình thành quả đạt được. Nhưng chắc hẳn trong thời gian đó, có kẻ ghen ghét tố cáo ông theo đạo nên vua hạch hỏi ông: “Khi xong công tác, khanh có viếng chùa Non Nước không?” (Chùa này ở Ngũ Hành Sơn). Ông bình tĩnh trả lời: “Muôn tâu, vì Hoàng Thượng không truyền nên thần không đi. Hơn nữa, chùa Non Nước đâu có giặc để đánh!” Vua hỏi tiếp: “Lệ thường, dẹp giặc xong rồi thì phải vào chùa lễ Phật, tại sao khanh không vào?” Ông chẳng ngần ngại trả lời: “Vì hạ thần theo Công giáo!”
Thế là quan thị vệ phải trả giá cho việc tuyên tín của mình. Vua Minh Mạng nổi cơn thịnh nộ trách mắng thậm tệ và dọa đem đi chém đầu. Một số quan chức có cảm tình với ông đứng ra can gián, song nhà vua vẫn chưa nguôi giận, ra lệnh đánh ông 80 roi, tước hết chức quyền, và giáng xuống làm lính trơn. Dù vậy, ông Bường vẫn vui vẻ tiếp tục phục vụ triều đình.
Vẹn chữ trung với Chúa giữa tù ngục
Hơn một năm sau, khoảng cuối tháng chạp 1832, khi chuẩn bị ra sắc chỉ cấm đạo toàn quốc, vua Minh Mạng đòi kê khai những người Công giáo trong hàng ngũ thị vệ. Lúc đó, các quan mới phát hiện ra nhiều thành viên đội này đã nghe lời “quyến rũ” của ông Bường mà theo đạo. Thế là ông và 11 binh sĩ khác có tên trong danh sách được trình lên. Năm người sợ quá xuất giáo, còn bảy người vua hạ lệnh tống giam vào ngục tối tăm hôi hám tại Trấn Phủ, nhà tù gần cửa Chánh Đông (Đông Ba). Mỗi người phải mang gông nặng gần bảy ký, chân thì bị xiềng sắt xiết chặt.
Thời gian đầu, cứ độ mươi ngày một lần, ông Bường lại bị đem ra tra khảo về niềm tin. Lần nào quan cũng hỏi: “Có bỏ đạo không?” Và lần nào ông cũng trả lời: “Lâu nay tôi chỉ thờ một Thiên Chúa dựng nên vạn vật, lẽ nào bây giờ tôi lại bỏ Chúa tôi?” Hậu quả mỗi lần thưa như vậy là 20 đòn rách da xé thịt, nhưng vị chiến sĩ Chúa Kitô chẳng than trách một lời. Với chí khí một người lính kiên cường, ông tỏ ra sẵn sàng chịu những hình khổ khắc nghiệt hơn nữa. Có lần viên cai ngục định thay gông cùm nhẹ hơn, ông nói: “Như vậy được rồi. Gông cùm nhẹ không ích lợi cho tôi mấy!”
Bốn phen bị quân lính khiêng qua Thập giá, ông đều mạnh mẽ chống cự đến cùng. Lần kia, quan truyền kéo chân ông chạm vào thánh vật, ông phản đối: “Việc này do quan làm, chứ không bao giờ tôi chịu như vậy.” Quan tức giận truyền đánh tàn nhẫn hơn mọi lần khác.
Đàn áp không được, quan quay qua dụ dỗ. Hình bộ Thượng thư Võ Xuân Cần tha thiết khuyên ông chiều theo ý vua: “Bỏ đạo lúc này thôi, rồi sau muốn làm gì thì làm.” Nhưng ông trả lời: “Quan lớn có lòng thương thì tôi cũng xin quan một điều là cho tôi được vẹn chữ trung với Chúa.” Nhiều quan bạn đến thăm, khuyên ông xuất giáo để về với vợ con, ông trả lời: “Đừng bỏ công găp tôi để khuyên như thế, tôi chẳng muốn nghe các vị đâu!”
Trong nhà giam, ông thường động viên các bạn cùng bị bắt hãy kiên tâm bền chí, trông cậy và cầu nguyện Đức Mẹ luôn, để được vững lòng chịu khổ đến cùng, vác Thập giá theo Chúa. Càng chịu đau khổ, đời sống thiêng liêng của ông càng gia tăng. Mỗi ngày ông siêng năng cầu nguyện, suy gẫm và đọc kinh Mân Côi. Mỗi tháng, nhờ các Linh mục cải trang vào thăm, ông đều xưng tội và đón nhận Mính Thánh Chúa, trong số đó có Cha Anrê Nguyễn Hòa An (gốc Da Môn, Quảng Trị). Thừa sai Jaccard Phan, bị giam lỏng ở Cung Quán gần đấy, cũng gửi thư an ủi động viên ông. Có lần, ông sáng tác một bài thơ gửi Cha An, biểu lộ lòng trung kiên sắt đá, coi mọi khổ đau là “dấu chứng tình thương Chúa gởi, đem lại nhiều nỗi vui mừng”.
Về trời trong đêm đen
Thấy không thể lay chuyển đức tin của người môn đệ Chúa Kitô, Thượng thư Bộ Hình và Bộ Hộ xin nhà vua tuyên án. Vua trả lời: “Cần gì bản án, hãy tra tấn liên tục! Nếu nó không chịu đạp lên Thập tự thì cứ việc đánh cho chết, rồi vất ra ngoài thành là xong.” Lần thứ hai các quan tâu lại, vua Minh Mạng mới chấp thuận châu phê bản án trảm quyết, treo đầu ba ngày để làm gương cho kẻ khác, một hình thức gia trọng. Tuy nhiên, vua vẫn chưa cho thi hành ngay, có ý chờ “tôi trung” của mình xin ân xá, như vậy sẽ gây nhiều ảnh hưởng. Các quan nói ý vua cho đội Bường, nhưng ông quyết liệt từ chối. Lúc đó ông đã bị chuyển sang Khám Đường, gần cửa Chánh Tây.
Thế là ngày 23.10.1833, sau 15 tháng bị giam tù, ông đội được cho biết sẽ bị thi hành án vào lúc năm giờ chiều tại làng Thợ Đúc (Phường Đúc hiện thời). Bình thản giã từ sáu anh bạn cùng bị bắt (cả sáu người này về sau cũng chịu tử đạo), ông nói: “Xin anh em thêm lời cầu nguyện, để tôi lãnh nhận Thánh ý Chúa. Đừng lo cho tôi, một hãy luôn đi theo đường lối Chúa định.”
Sở dĩ có trường hợp đặc biệt bị xử về đêm và nơi hoang vắng như thế, đó là vì quan thị vệ từng lập nhiều công trạng với vua, nên vua muốn cuộc hành hình phải diễn ra thật âm thầm, ít người hay biết. Dù vậy, Minh Mạng cũng cố vớt vát phút chót nên sai một viên quan chạy theo đoàn người, trao đặc xá cho kẻ bị kết án nếu bỏ đạo. Ông đội quyết liệt khước từ.
Trên đường đến nơi xử ở làng Thợ Đúc (khi ấy nằm cách xa sông Hương), ông đội xin được chém trên nền nhà thờ tại Khe Tre, thôn Thượng Bốn mà vua mới ra lệnh đốt, gần hơn chỗ định hành hỉnh. Viên quan chỉ huy đồng ý. Vì chính nơi đây, từng bao năm tháng, dưới ánh sáng lung linh của những ngọn nến, các tín hữu đã âm thầm tụ họp thờ phượng, dâng lên hiến tế tối cao là Đức Giêsu, thì lúc này, dưới ánh sáng của những ngọn đuốc bừng cháy, ông đội cũng muốn hiến dâng chính mạng sống mình. Chỗ ấy lại gần nhà con gái và con rể. Trong thực tế, hai cha con đã gặp nhau, và tuy không nói với nhau một lời, nhưng trong ánh mắt họ dạt dào biết bao tình cảm xúc động. Sau này cô sẽ ra làm chứng cho thân phụ.
Nhưng vì đoàn người không thể vượt chiếc cầu ọp ẹp bắc qua khe nước, nước lại dâng cao, để đến tận nơi như ông đội mong muốn và được chấp thuận, nên phải xử giữa đường (nay hiện có đài kỷ niệm). Dưới ánh sáng bừng bừng của những ngọn đuốc, quan thị vệ được tháo gông, cởi trói và tự do trong ít phút. Ông tiến vài bước, bình tĩnh phóng mắt nhìn lần cuối cùng những mái nhà thân thương của giáo xứ vây quanh nền nhà thờ hoang tàn. Rồi bước lên chiếc chiếu do một bạn cũ tên Thục ở Phủ Cam đưa cho lính trải, ông quỳ xuống cầu nguyện giây lát, rồi báo cho viên quan chỉ huy mình đã sẵn sàng. Quân lính trói tay ông lại và vung gươm chém rơi đầu người chiến sĩ đức tin kiên cường, chỉ 6 hôm sau cuộc tử đạo của Thừa sai Gagelin Kính ở Bãi Dâu. Thủ cấp ông bị bêu ba ngày trên nền nhà thờ Thợ Đúc, còn thi hài vị tử đạo được an táng ở Giáo xứ Phủ Cam quê hương.

Đài Tưởng niệm nơi Thánh Phaolô Tống Viết Bường chịu xử trảm.
Ngày 27.05.1900, chứng nhân Phaolô Tống Viết Bường được Đức Giáo hoàng Lêô XIII suy tôn lên bậc Chân phước Ngày 19.06.1988, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong ngài lên bậc Hiển thánh.
Ban Biên tập Lịch sử TGP Huế